.png)
Ảnh minh họa
Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh trong thời gian tới cụ thể như sau:
Trên cây cà phê:
Thường xuyên tỉa bỏ chồi thân, cành vượt, cành tăm, cành mọc ngược nhằm tạo độ thông thoáng, giảm thiểu tiêu hao dinh dưỡng, sâu bệnh hại cho vườn cây. Bón phân kịp thời để bổ sung dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn nuôi trái.
Đối với bệnh nấm hồng: Sử dụng hoạt chất Azoxystrobin 50g/l + Hexaconazole 100g/l sau để phòng trừ.
Đối với bệnh gỉ sắt: sử dụng thuốc Anvil, Tilt super để phòng trừ.
Đối với bệnh khô cành, khô quả, dùng thuốc Daconil 500SC, Supertim 300EC.
Đối với rệp dùng các hoạt chất Abamectin, Alpha – Cypermethrin, Benfurcar…
để diệt trừ.
Trên cây tiêu:
Làm cỏ dại để giảm cạnh tranh dinh dưỡng và hạn chế nơi trú ẩn của sâu hại, mầm bệnh và tạo độ thông thoáng giúp cho cây trao đổi chất được tốt hơn. Cắt bỏ toàn bộ cành lá cây che bóng, không để ảnh hưởng tác động vật lý của cây đến trụ tiêu khi mưa to, gió lớn. Thiết kế hệ thống thoát nước, đề phòng ngập úng trong mùa mưa, tránh lây lan nguồn bệnh. Bón phân NPK định kỳ theo Quy trình hướng dẫn canh tác cây hồ tiêu.
Phòng trừ bệnh thối rễ tơ (chết chậm): Sử dụng một số chế phẩm chứa các vi sinh vật đối kháng: Burkholderia, Pseudomonas, Bacillus, Trichoderma sp như: Chế
Phẩm Vi Sinh trừ bệnh cây trồng do Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Lục Diệp nghiên cứa sản xuất.
Hoặc dùng: Mexyl MZ72WP, Anfamil 35WP, Aliette 80WP… pha theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì tưới hoặc bơm xục xuống gốc từ 3 đến 5 lít/ trụ để phòng trừ. Kết hợp phòng trừ tuyến trùng rễ bằng các loại thuốc như: Marshal 5G, Vimoca 10G,… với lượng (20-30g )/trụ.
Trên cây điều: Đối với sâu đục thân bằng biện pháp thủ công xoi theo lổ đục để bắt và tiêu diệt; kết hợp cắt tỉa cành thông thoáng, tiêu hủy tàn dư cành bị sâu hại để hạn chế mầm trứng, ấu trùng, hạn chế nơi ẩn náu của trưởng thành để trứng (Có thể tiêu hủy bằng cách đốt, hoặc ngâm trong nước vôi để tiêu diệt).
Trên cây sầu riêng: Đối với thối gốc: Dùng thuốc Metalaxyl, Ridomil, Aliette để phòng trừ kịp thời hạn chế lây lan trên diện rộng. Đối với bệnh cháy lá, chết đọt, dùng các hoạt chất azoxystrobin.
Trên cây lúa:
Áp dụng IPM, ICM, thường xuyên thăm đồng ruộng.
Thường xuyên theo dõi diễn biến của một số đối tượng sâu bệnh có phát sinh gây hại mạnh trong giai đoạn này như: Bệnh đốm nâu, bệnh đen lép hạt (lem lép), sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ,… để chủ động phòng trừ kịp thời, có hiệu quả cho cây lúa vào giai đoạn vào chín – thu hoạch.
Đối với rầy nâu: Chủ động phòng trừ kịp thời ngay sau khi rầy cám nở rộ, chỉ sử dụng thuốc trừ sâu khi mật độ rầy nâu 1.000 con/m2 trở lên (đối với giai đoạn trước trổ bông) 500 con/m2 trở lên (đối với giai đoạn sau trổ bông), sử dụng thuốc có chứa các hoạt chất Buprofezin, Imidacloprid, Dimethoate + Isoprocarb… để phòng trừ. Trước khi phun thuốc, điều tiết mực nước trong ruộng khoảng 10 - 15 cm kết hợp rạch hàng theo băng rộng 1,5 - 2 m để tăng hiệu quả diệt trừ.
Đối với bệnh đạo ôn: Phát hiện sớm và xử lý kịp thời, chỉ phun thuốc khi tỷ lệ lá bị bệnh trên 10%, xử lý bằng cách phun thuốc có chứa hoạt chất Albendazole, Azoxystrobin, Ferimzone... chú ý phun kỹ mặt dưới của lá để nâng cao hiệu quả phòng trừ.
Đối với bệnh đen lép hạt (lem lép): Có thể sử dụng thuốc có hoạt chất: Propiconazole + Difenconazole; Tricyclazole 20% + Kasugamycin 1,2%..... để phun phòng trừ.
Lưu ý: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc và đúng cách) để đạt hiệu quả.
Kiều Nhung
English 





